ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG THỰC HIỆN DỰ ÁN

1.1. Điều kiện tự nhiên vùng thực hiện đề án.
Vị trí địa lý
Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là
thành phố trực thuộc trung ương lớn thứ hai về quy mô dân số, được xếp loại đô
thị đặc biệt, có vị trí là trung tâm văn hóa, chính trị, một trong hai trung tâm kinh
tế, giáo dục quan trọng tại Việt Nam.

Hà Nội nằm về phía Tây Bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, với địa hình bao gồm vùng đồng bằng trung tâm và vùng đồi núi ở phía Bắc và phía Tây thành phố. Phạm vi từ 20°34′ đến 21°18′ vĩ độ Bắc và từ 105°17′ đến 106°02′ kinh độ Đông, có vị trí địa lý: – Phía đông giáp tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hưng Yên – Phía tây giáp tỉnh Phú Thọ – Phía nam giáp tỉnh Ninh Bình – Phía bắc giáp tỉnh Thái Nguyên.
Với diện tích 3.359,82 km², và dân số xấp xỉ 8,5 triệu người, Hà Nội là thành phố trực thuộc trung ương có diện tích lớn thứ năm tại Việt Nam, đồng thời cũng là thành phố đông dân thứ hai và có mật độ dân số cao nhất trong 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh của Việt Nam nhưng phân bố dân số không đồng đều. Hà Nội có 126 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 51 phường và 75 xã.

Hà Nội cách thành phố cảng Hải Phòng 102 km, cách thành phố Nam Định 84 km tạo thành 3 cực chính của Đồng bằng sông Hồng. Các điểm cực của thủ đô Hà Nội là: – Điểm cực Bắc tại: thôn Đô Lương, xã Trung Giã. – Điểm cực Tây tại: thôn Lương Khê, xã Bất Bạt. – Điểm cực Nam tại: khu danh thắng Hương Sơn, xã Hương Sơn. – Điểm cực Đông tại: thôn Cổ Giang, xã Thuận An
Địa hình
Đại bộ phận diện tích Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển. Địa hình Hà Nội có thể chia ra làm hai bộ phận.
Vùng đồng bằng thấp và khá bằng phẳng, chiếm đại bộ phận diện tích của các huyện thị xã và các quận nội thành, được bồi đắp bởi các dòng sông với các bãi bồi hiện đại, bãi bồi cao và các bậc thềm. Xen giữa các bãi bồi hiện đại và các bãi bồi cao còn có các vùng trũng với các hồ, đầm (dấu vết của các dòng sông cổ).
Đó là các ô trũng tự nhiên rất dễ bị úng ngập trong mùa mưa lũ và khi có mưa lớn ở các huyện Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì, Thanh Oai, Quốc Oai, Chương Mỹ, Ứng Hòa, Mỹ Đức.
Do được khai phá và canh tác từ lâu đời nên hiện nay ở Hà Nội có hệ thống đê điều ngăn lũ chạy dọc những triền sông. Hệ thống đê điều này khiến cho các cánh đồng trong đê không được bồi đắp phù sa hằng năm và phải xây dựng nhiều công trình thủy lợi để tưới và tiêu nước.
Vùng đồi núi tập trung ở phía bắc và phía tây thành phố, thuộc các huyện Sóc Sơn, Thạch Thất, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh núi cao như Ba Vì (1296 m), Gia Dê (707 m), Hàm Lợn (462 m)… Khu vực nội thành có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng.
Địa hình của Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Điều này được phản ánh rõ nét qua hướng dòng chảy tự nhiên của các con sông chính chảy qua Hà Nội.
Khí hậu
Khí hậu Hà Nội mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, được nêu trên trang web chính thức của Hà Nội. Tuy nhiên, dựa theo Phân loại khí hậu Köppen, trang web ClimaTemps.com lại xếp Hà Nội mang khí hậu cận nhiệt đới ẩm (Humid Subtropical) với mã Cwa. Thời tiết có sự khác biệt rõ ràng giữa mùa nóng và mùa lạnh. Mặc dù thời tiết được chia làm hai mùa chính: mùa mưa (từ tháng 4 tới tháng 10) và mùa khô (từ tháng 11 tới tháng 3), Hà Nội vẫn được tận hưởng thời tiết bốn mùa nhờ các tháng giao mùa. Mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 8, khí hậu nóng ẩm vào đầu mùa và cuối mùa mưa nhiều rồi mát mẻ, khô ráo vào tháng 9 và tháng 10. Mùa lạnh bắt đầu từ cuối tháng 11 đến hết tháng 3 năm sau. Từ cuối tháng 11 đến nửa đầu tháng 2 rét và hanh khô, từ nửa cuối tháng 2 đến hết tháng 3 lạnh và mưa phùn kéo dài từng đợt. Trong khoảng tháng 9 đến giữa tháng 11, Hà Nội có những ngày thu với tiết trời mát mẻ (rõ rệt hơn Hải Phòng, Nam Định và nhiều tỉnh phía Bắc khác) do đón vài đợt không khí lạnh yếu tràn về. Tuy nhiên, do chịu sự tác động mạnh mẽ của gió mùa nên thời gian bắt đầu và kết thúc của mỗi mùa thường không đồng đều nhau giữa các năm, nên sự phân chia các tháng chỉ mang tính tương đối.
Nhiệt độ trung bình mùa đông: 16,4 °C (lúc thấp xuống tới 2,7 °C). Trung bình mùa hạ: 29,2 °C (lúc cao nhất lên tới 42,8 °C). Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,6 °C, lượng mưa trung bình hàng năm vào mức 1.800mm đến 2.000mm.
Vào tháng 5 năm 1926, nhiệt độ tại thành phố được ghi lại ở mức kỷ lục 42,8 °C.
Tài nguyên thiên nhiên
✓ Tài nguyên mặt nước:
Hệ thống sông, hồ Hà Nội thuộc hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, phân bố không đều giữa các vùng, có mật độ thay đổi trong phạm vi khá lớn 0,1 – 1,5 km/km2 (chỉ kể những sông tự nhiên có dòng chảy thường xuyên) và 0,67 – 1,6 km/km2 (kể cả kênh mương). Một trong những nét đặc trưng của địa hình Hà Nội là có nhiều hồ, đầm tự nhiên. Tuy nhiên, do yêu cầu đô thị hóa và cũng do thiếu quy hoạch, quản lý kém nên nhiều ao hồ đã bị san lấp để lấy đất xây dựng.
Diện tích ao, hồ, đầm của Hà Nội hiện còn lại vào khoảng 3.600 ha. Có thể nói, hiếm có một Thành phố nào trên thế giới có nhiều hồ, đầm như ở Hà Nội. Hồ, đầm của Hà Nội đã tạo nên nhiều cảnh quan sinh thái đẹp cho Thành phố, điều hòa tiểu khí hậu khu vực, rất có giá trị đối với du lịch, giải trí và nghỉ dưỡng.
Hà Nội không phải là vùng dồi dào nước mặt, nhưng có lượng nước chảy qua khổng lồ của sông Hồng, sông Cầu, sông Cà Lồ có thể khai thác sử dụng.
✓ Tài nguyên đất
Hà Nội có tổng diện tích đất tự nhiên 92.097 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 47,4%, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 8,6%, đất ở chiếm 19,26%. Xuất phát từ yêu cầu sử dụng đất của Thủ đô Hà Nội, có 2 nhóm đất có ý nghĩa lớn nhất đối với phát triển kinh tế – xã hội, đó là đất nông lâm nghiệp và đất
xây dựng. Phần lớn diện tích đất đai ở nội Thành Hà Nội được đánh giá là không thuận lợi cho xây dựng do có hiện tượng tích nước ngầm, nước mặt, sụt lún, nứt đất, sạt lở, trôi trượt dọc sông, cấu tạo nền đất yếu.
✓ Tài nguyên sinh vật
Hà Nội có một số kiểu hệ sinh thái đặc trưng như hệ sinh thái vùng gò đồi ở Sóc Sơn và hệ sinh thái hồ, điển hình là hồ Tây, hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái đô thị… Trong đó, các kiểu hệ sinh thái rừng vùng gò đồi và hồ có tính đa dạng sinh học cao hơn cả. Khu hệ thực vật, động vật trong các hệ sinh thái đặc trưng của Hà Nội khá phong phú và đa dạng. Cho đến nay, đã thống kê và xác định có 655 loài thực vật bậc cao, 569 loài nấm lớn (thực vật bậc thấp), 595 loài côn trùng, 61 loài động vật đất, 33 loài bò sát-ếch nhái, 103 loài chim, 40 loài thú, 476 loài thực vật nổi, 125 loài động vật KXS Thủy sinh, 118 loài cá, 48 loài cá cảnh nhập nội. Trong số các loài sinh vật, nhiều loài có giá trị kinh tế, một số loài quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam. Hà Nội hiện có 48 công viên, vườn hoa, vườn dạo ở 7 quận nội Thành với tổng diện tích là 138 ha và 377 ha thảm cỏ. Ngoài vườn hoa, công viên, Hà Nội còn có hàng vạn cây bóng mát thuộc 67 loại thực vật trồng trên các đường phố, trong đó có 25 loài được trồng tương đối phổ biến như bằng lăng, sữa, phượng vĩ, săng đào, lim xẹt, xà cừ, sấu, muồng đen, sao đen, long nhãn, me..Các
làng hoa và cây cảnh ở Hà Nội như Nghi Tàm, Ngọc Hà, Quảng Bá, Láng, Nhật Tân,v.v… đã có truyền thống từ lâu đời và khá nổi tiếng gần đây, nhiều làng hoa và cây cảnh được hình Thành thêm ở các vùng ven đô như Vĩnh Tuy, Tây Tựu, và một số xã ở Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn cùng với các loài được chuyển từ các tỉnh phía Nam hoặc hội nhập từ nước ngoài làm cho tài nguyên sinh vật của Hà Nội ngày càng đa dạng và phong phú.
✓ Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn Hà Nội, đã phát hiện được 82 mỏ và điểm quặng với 8 lao khác nhau. Chiếm ưu thế hơn cả là sét các loại, kaolin. Sét- Kaolin, cát xây dựng và than bùn; các khoáng sản khác nhưa đá xây dựng, đá ôog, sét dung dịch ít qua triển vong.
Vật liệu xây dựng có cát đen: với trữ lượng 48,506 m3 . Cát vàng có nhiều ở sông Cà Lồ và sông Công, trữ lượng 53,76 m3 Đá xây dựng trachit phân bố ở Minh Phú – Sóc Sơn Đá ong ở Sóc Sơn, chiều dày trung bình 1,5m. Sét gạch có 2 loai: sép phân hóa ở Soc Sơn, trữ lượng 36.82 m3 và sét trầm tích Đế Tứ ở Đông Anh, Sóc Sơn, Từ Liêm, Gia Lam, Thành Trù, trữ lượng 223.45 m3
✓ Tài nguyên du lịch
So với các tỉnh, thành phố khác của Việt Nam, Hà Nội là một thành phố có tiềm năng để phát triển du lịch. Trong nội ô, cùng với các công trình kiến trúc, Hà Nội còn sở hữu một hệ thống bảo tàng đa dạng bậc nhất Việt Nam. Thành phố cũng có nhiều lợi thế trong việc giới thiệu văn hóa Việt Nam với du khách nước
ngoài thông qua các nhà hát sân khấu dân gian, các làng nghề truyền thống,… Du lịch Hà Nội đang ngày càng trở nên hấp dẫn hơn với các du khách. Năm 2007, Hà Nội đón 1,1 triệu lượt khách du lịch ngoại quốc. Năm 2008, trong 9 triệu lượt khách của thành phố, có 1,3 triệu lượt khách nước ngoài.
Tỷ lệ du khách tới thăm các bảo tàng Hà Nội cũng không cao. Một trong các bảo tàng thu hút nhiều khách tham quan nhất là Bảo tàng dân tộc học. Hàng năm, bảo tàng Dân tộc học, điểm đến được yêu thích trong các sách hướng dẫn du lịch, có 180.000 khách tới thăm, trong đó một nửa là người nước ngoài.
1.2. Điều kiện kinh tế xã hội vùng thực hiện dự án
Theo số liệu của Cục Thống kê TP. TP. Hà Nội, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý 3 năm 2025 của Hà Nội ước tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng vững chắc.
Tính chung 9 tháng năm 2025, GRDP của Hà Nội ước tăng 7,92% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, khu vực dịch vụ ước tính tăng 8,74% so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng 9 tháng năm 2025 ước tính tăng 7,03%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2025, ước tính tăng
3,43%.

Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều biến động, nhu cầu thị trường chưa phục hồi hoàn toàn, sản xuất công nghiệp chưa bứt phá mạnh mẽ, mức tăng trưởng này được đánh giá là kết quả tích cực và đáng ghi nhận, thể hiện nỗ lực lớn của thành phố trong điều hành và triển khai chính sách
kinh tế – xã hội.
Một trong những điểm sáng nổi bật của kinh tế Thủ đô trong 9 tháng qua là tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Hà Nội đạt 499,9 nghìn tỷ đồng, bằng 97,3% dự toán pháp lệnh cả năm và tăng tới 32,5% so với cùng kỳ năm 2024.
Bên cạnh đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của Hà Nội trong 9 tháng năm nay đạt hơn 702,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Riêng trong quý 3, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 246,1 nghìn tỷ đồng, tăng 7,3% so với quý trước và tăng
14% so với cùng kỳ năm trước.
Mặc dù chịu tác động từ bất ổn chính trị và chính sách thương mại toàn cầu, sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Nội vẫn giữ được đà tăng trưởng tích cực. Ước tính quý 3/2025, chỉ số sản xuất công nghiệp của Hà Nội tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, IIP của Hà Nội tăng 6,7% so
với cùng kỳ năm ngoái.
Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục ghi nhận tăng trưởng mạnh mẽ, khẳng định vai trò là một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế Hà Nội, đồng thời góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Hà Nội trong 9 tháng đạt 50 tỷ USD, tăng 13,7% so với cùng kỳ; trong đó,
xuất khẩu tăng 12,1%, nhập khẩu tăng 14,5%.
Thành phố cũng đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, coi đây là động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 9 tháng tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 59,5 nghìn tỷ đồng, cao nhất cả
nước, tăng 31,1% so với cùng kỳ, thể hiện nỗ lực điều hành quyết liệt, tập trung vào các công trình trọng điểm.
Nhờ cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư và kinh doanh, Hà Nội tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn quốc tế. 9 tháng đầu năm 2025, tổng số vốn FDI đăng ký tại Hà Nội đạt hơn 3,89 tỷ USD, gấp 2,9 lần so với cùng kỳ năm 2024, khẳng định vị thế bến đỗ an toàn, ổn định và tiềm năng của các nhà đầu tư
nước ngoài.
Trong đó, có 301 dự án mới với số vốn đăng ký mới đạt hơn 307 triệu USD; 114 lượt dự án điều chỉnh vốn đầu tư với tổng số vốn điều chỉnh hơn 3.217 triệu USD; 265 lượt nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần với số vốn đạt hơn 373 triệu USD.
Hoạt động của các doanh nghiệp cũng ghi nhận kết quả khởi sắc. Riêng trong tháng 9, Hà Nội đã cấp giấy chứng nhận đăng ký cho 3.063 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 58,7% so với cùng kỳ; với tổng vốn đăng ký đạt 31,8 nghìn tỷ đồng, tăng 90,1%. Tính chung 9 tháng, thành phố đã cấp giấy chứng nhận cho gần 25 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 271,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5% về số lượng và 30,8% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2024.

QUY MÔ CỦA DỰ ÁN

2.1. Các hạng mục xây dựng của dự án
Diện tích đất của dự án gồm các hạng mục như sau:
Bảng tổng hợp danh mục các công trình xây dựng và thiết bị
Chi phí quản lý dự án 3,446 (GXDtt+GTBtt) * ĐMTL% 127.384
Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng 324.517
1 Chi phí lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi/Đề xuất đầu tư 0,668 (GXDtt+GTBtt) * ĐMTL% 24.693
2 Chi phí lập báo cáo nghiên cứu khả thi 1,114 (GXDtt+GTBtt) * ĐMTL% 41.180
3 Chi phí thiết kế kỹ thuật 2,360 GXDtt * ĐMTL% 55.548
4 Chi phí thiết kế bản vẽ thi công 1,298 GXDtt * ĐMTL% 30.551
5 Chi phí thẩm tra báo cáo nghiên cứu tiền khả thi 0,071 (GXDtt+GTBtt) * ĐMTL% 2.625
6 Chi phí thẩm tra báo cáo nghiên cứu khả thi 0,204 (GXDtt+GTBtt) * ĐMTL% 7.541
7 Chi phí thẩm tra thiết kế xây dựng 0,258 GXDtt * ĐMTL% 6.073
8 Chi phí thẩm tra dự toán công trình 0,250 GXDtt * ĐMTL% 5.884
9 Chi phí giám sát thi công xây dựng 3,285 GXDtt * ĐMTL% 77.320
10 Chi phí giám sát lắp đặt thiết bị 0,844 GTBtt * ĐMTL% 11.334
11 Chi phí báo cáo đánh giá tác động môi trường

ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN DỰ ÁN VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG ĐẤT, HÌNH
THỨC ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

3.1. Địa điểm khu đất thực hiện dự án
Dự án “Trang trại nông nghiệp an toàn” được thực hiện tại Xã Tiến Thắng, Thành phố Hà Nội.
Vị trí thực hiện dự án
Vị trí thực hiện dự án
Vị trí thực hiện dự án – Diện tích dự kiến sử dụng: 70.000,0 m2 (7,00 ha). – Diện tích đất phù hợp quy hoạch: 70.000,0 m2 (7,00 ha) (đã trừ diện tích đất thuộc lộ giới và diện tích đất không phù hợp quy hoạch);
3.2. Hiện trạng sử dụng đất tại địa điểm thực hiện dự án – Hiện trạng sử dụng đất: Đất lúa nước và nuôi trồng thuỷ sản.
3.3. Dự kiến nhu cầu sử dụng đất của dự án
3.4. Cơ sở pháp lý xác định quyền sử dụng khu đất

Khu đất thuộc quyền quản lý của nhà đầu tư đưa vào thực hiện dự án đầu tư.
3.5. Hình thức đầu tư
Dự án được đầu tư theo hình thức xây dựng mới.

SỰ PHÙ HỢP ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN DỰ ÁN

Vị trí, diện tích, ranh giới dự án “Trang trại nông nghiệp an toàn” Nhà đầu tư đề xuất được thực hiện tại Xã Tiến Thắng, Thành phố Hà Nội, với diện tích 70.000,0 m2 (7,00 ha). Dự án sẽ đăng ký thực hiện dự án và đăng ký kế hoạch sử dụng đất tại Thành phố Hà Nội trong thời gian tới.

NHU CẦU CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO

Phân tích đánh giá các yếu tố đầu vào đáp ứng nhu cầu của dự án
Các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, vật tư xây dựng đều có bán tại địa phương và trong nước nên các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình thực hiện là tương đối thuận lợi và đáp ứng kịp thời.
Đối với nguồn lao động phục vụ quá trình hoạt động sau này, dự kiến sử dụng nguồn lao động của gia đình và tại địa phương. Nên cơ bản thuận lợi cho quá trình thực hiện.

All in one